Đề án phát triển doanh nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2030: Từ tăng số lượng đến nâng cao chất lượng

UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phát triển doanh nghiệp tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030, đặt ra định hướng phát triển toàn diện cho khu vực doanh nghiệp trong giai đoạn tới, với mục tiêu đến năm 2030 có 18.000-20.000 doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, đóng góp khoảng 65% GRDP và khoảng 70% tổng thu ngân sách toàn tỉnh.

Kết quả nổi bật và những vấn đề đặt ra

Giai đoạn 2021-2025, khu vực doanh nghiệp Hà Tĩnh ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Toàn tỉnh có 7.039 doanh nghiệp thành lập mới, tăng khoảng 50% so với giai đoạn 2016-2020 và gấp hơn 2,3 lần giai đoạn 2011-2015. Đến hết năm 2025, có 10.850 doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế. Doanh thu thuần của khu vực doanh nghiệp đạt 806.537 tỷ đồng, tăng 62,3% so với giai đoạn trước. Đặc biệt, lợi nhuận trước thuế đảo chiều rõ rệt: từ thua lỗ 22.507 tỷ đồng (giai đoạn 2016-2020) sang có lãi 3.837 tỷ đồng (2021-2025), dấu hiệu cho thấy hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể.

Đề án cũng chỉ ra những tồn tại trong phát triển doanh nghiệp của tỉnh. Điểm đáng chú ý nhất là tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động có lãi liên tục giảm qua các giai đoạn: từ 60% (2011-2015) xuống 48% (2016-2020) và tiếp tục giảm còn 43% (2021-2025). Nói cách khác, trong khi tổng lợi nhuận toàn khu vực tăng mạnh, chủ yếu nhờ đóng góp tập trung từ một số doanh nghiệp lớn thì đa số doanh nghiệp vẫn đang kinh doanh ở ngưỡng hòa vốn hoặc thua lỗ. Đây là mâu thuẫn cốt lõi mà đề án thẳng thắn đặt ra: tăng trưởng về số lượng chưa đi kèm với cải thiện thực chất về chất lượng hoạt động.

Cơ cấu doanh nghiệp phản ánh rõ thực trạng này. Khu vực dân doanh chiếm 99,1% tổng số doanh nghiệp nhưng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Doanh nghiệp FDI chỉ có 91 đơn vị (0,8%) nhưng đóng góp đến 55% tổng doanh thu thuần của toàn khu vực doanh nghiệp thể hiện sự phụ thuộc đáng kể vào một số dự án công nghiệp lớn, đặc biệt là Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Số doanh nghiệp FDI thành lập mới giảm từ 56 (giai đoạn 2011-2015) xuống 23 (2016-2020) và chỉ còn 12 (2021-2025).

Chỉ số PCI - thước đo chất lượng điều hành và môi trường kinh doanh phản ánh bức tranh chưa đồng đều: từ vị trí 18/63 năm 2022, tỉnh tụt xuống 54/63 năm 2023 trước khi phục hồi lên 46/63 năm 2024. Năm 2025, theo phương pháp đánh giá PCI 2.0, tỉnh xếp khoảng 26/34 tỉnh, thành phố và thuộc nhóm trung bình. Các điểm yếu xuyên suốt gồm tiếp cận nguồn lực, gia nhập thị trường, tính minh bạch và cạnh tranh bình đẳng.

Khung chiến lược - ba trụ cột, một trọng tâm

Điểm đáng chú ý nhất trong kiến trúc chiến lược của Đề án là tư duy tiếp cận đồng thời ba khu vực doanh nghiệp: nhà nước, tư nhân và FDI trong một khuôn khổ chính sách nhất quán, thay vì xử lý từng khu vực riêng rẽ. Đây là sự cụ thể hóa trực tiếp ba Nghị quyết của Bộ Chính trị: Nghị quyết 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân, Nghị quyết 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Nghị quyết 10-NQ/TW về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Về doanh nghiệp nhà nước, đề án xác định vai trò dẫn dắt và kiến tạo, không phải cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân. Định hướng tập trung vào quản trị hiện đại theo chuẩn OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), hoàn thành hợp nhất các doanh nghiệp lâm nghiệp theo hướng tinh gọn và thực hiện thoái vốn nhà nước theo lộ trình được phê duyệt. Mục tiêu 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị trên nền tảng số đến năm 2030 là cam kết có tính định lượng cao, dễ kiểm chứng.

 

Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam).

Về doanh nghiệp tư nhân, đây là khu vực được đặt trọng tâm phát triển. Đề án đặt ra mục tiêu tăng trưởng số lượng doanh nghiệp bình quân 11-12%/năm, hướng đến 18.000-20.000 doanh nghiệp vào năm 2030. Điểm mới so với giai đoạn trước là cơ chế "Luồng xanh 24 giờ" và "Luồng xanh 60%" - cơ chế phân luồng ưu tiên xử lý thủ tục hành chính cho các dự án đầu tư trọng điểm, được kỳ vọng tạo bước đột phá thực chất trong cải cách thủ tục. Đề án cũng nhấn mạnh chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp là nguồn bổ sung quan trọng, hiện tỉnh có 45.870 hộ kinh doanh nhưng giai đoạn 2021-2025 chỉ có 41 hộ thực hiện chuyển đổi, tiềm năng còn rất lớn.

Nhà máy sản xuất ô tô và xe máy điện của Vinfast tại KKT Vũng Áng

Về doanh nghiệp FDI, đề án chuyển mạnh từ thu hút theo số lượng sang chú trọng chất lượng, công nghệ và mức độ liên kết với nền kinh tế địa phương. Mục tiêu thu hút tối thiểu 10 dự án FDI có công nghệ tiên tiến và hình thành 20 doanh nghiệp nội tỉnh tham gia chuỗi giá trị của FDI đến năm 2030, đây là hướng tiếp cận tạo chiều sâu thay vì chiều rộng.

Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh (ảnh BHT)

Năm nhóm giải pháp nhìn từ góc độ chính sách

Đề án xác định 11 giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện đáp ứng các mục tiêu, chỉ tiêu. Trong đó, có thể xác định thành năm nhóm giải pháp chính: Hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và hoàn thiện hạ tầng là nền tảng vật chất và thể chế; ba nhóm sau: phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ nâng cao năng lực doanh nghiệp, và tăng cường liên kết chuỗi là các giải pháp phát triển nội sinh của khu vực doanh nghiệp.

Hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh. Đây là nhóm ưu tiên hàng đầu với mục tiêu PCI vươn lên nhóm "Tốt" vào năm 2030. Hai cơ chế đột phá được đề xuất: "Luồng xanh 24 giờ" xử lý thủ tục cho dự án trọng điểm và cơ chế phân luồng ưu tiên lấp đầy khu, cụm công nghiệp cho nhóm doanh nghiệp được ưu tiên phát triển. Song song đó, siết chặt kiểm soát chi phí không chính thức, không thanh tra theo kế hoạch quá một lần/năm đối với doanh nghiệp đang hoạt động bình thường; gắn kết quả PCI và DDCI với trách nhiệm người đứng đầu. Về số hóa, tích hợp toàn bộ thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường trên một kênh phục vụ doanh nghiệp; thí điểm cảng biển số, khu công nghiệp thông minh; đảm bảo 100% doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử vào năm 2030.

Phát triển hạ tầng và quỹ đất. Ưu tiên hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật Khu kinh tế Vũng Áng và Khu kinh tế Cửa khẩu Cầu Treo; thúc đẩy các tuyến giao thông chiến lược: cao tốc Vũng Áng - Cha Lo, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt Viêng Chăn - Vũng Áng; hình thành trung tâm logistics cấp quốc gia gắn với cụm cảng Vũng Áng - Sơn Dương. Về quỹ đất, dành tối thiểu 20 ha hoặc 5% tổng quỹ đất đã đầu tư hạ tầng tại mỗi khu công nghiệp cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp thuê với giá ưu đãi; đẩy nhanh giải phóng mặt bằng và bổ sung nhà ở xã hội, nhà ở công nhân phục vụ nhu cầu của người lao động.

Đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông qua Hà Tĩnh

Hỗ trợ nâng cao năng lực nội sinh của doanh nghiệp. Đề án triển khai đồng thời nhiều gói hỗ trợ: kết nối doanh nghiệp với ngân hàng, quỹ đầu tư; thí điểm cấp tín dụng theo chuỗi giá trị và dòng tiền thay vì phụ thuộc tài sản bảo đảm; cung cấp 30 khóa đào tạo miễn phí về tài chính, kế toán, pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Về chuyển đổi số, hỗ trợ tối thiểu 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng nền tảng số trong quản trị và sản xuất; phấn đấu hơn 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Về chuyển đổi xanh, nhóm giải pháp hoàn toàn mới so với giai đoạn 2021-2025: hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá phát thải, áp dụng công nghệ sạch, năng lượng tái tạo và tiếp cận vốn tài chính xanh, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu về tiêu chuẩn môi trường. Đặc biệt, Đề án thiết lập cơ chế cảnh báo sớm, đối soát dữ liệu đăng ký kinh doanh, thuế, bảo hiểm xã hội và lao động hàng quý để nhận diện doanh nghiệp có dấu hiệu suy giảm; phân loại thành ba nhóm phục hồi để can thiệp đúng mức, thay vì xử lý đồng loạt như trước.

Diễn đàn kinh tế tư nhân Hà Tĩnh năm 2026

Phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ doanh nhân. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong khu vực tư nhân lên 65-70%, tập trung vào logistics, chế biến, du lịch - dịch vụ và kinh tế biển. Về đội ngũ doanh nhân, 70-80% chủ doanh nghiệp được bồi dưỡng kiến thức quản trị, pháp lý, tài chính và chuyển đổi số. Đề án hình thành mạng lưới cố vấn doanh nhân, kết nối doanh nhân thành công và chuyên gia với doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hình thức tư vấn thực hành đồng hành với từng vấn đề cụ thể, thay vì đào tạo đại trà. Mô hình đào tạo theo đặt hàng giữa doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước được thúc đẩy để bám sát nhu cầu thực tế từng ngành, từng khu vực.

Tổ chức các lớp tập huấn miễn phí cho doanh nghiệp

Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và mở rộng thị trường. Đề án xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng nội tỉnh, trong đó doanh nghiệp lớn và dự án trọng điểm công bố công khai nhu cầu mua hàng; doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và năng lực quản trị để tham gia chuỗi cung ứng. Mục tiêu hình thành 20 doanh nghiệp nội tỉnh tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp FDI vào năm 2030. Về phát triển doanh nghiệp mới, rà soát và hỗ trợ chuyển đổi 45.870 hộ kinh doanh hiện có lên doanh nghiệp theo lộ trình; nghiên cứu thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm địa phương hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Về xúc tiến thương mại, chuyển từ mô hình hội chợ, triển lãm sang hỗ trợ thực chất gắn với đơn hàng, kênh phân phối và tiêu chuẩn thị trường; triển khai Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030, ưu tiên các sản phẩm có lợi thế so sánh của tỉnh.

Những thách thức chính sách cần lưu ý

Thứ nhất, khoảng cách giữa mục tiêu số lượng và chất lượng. Mục tiêu 18.000-20.000 doanh nghiệp vào năm 2030 đòi hỏi tốc độ tăng trưởng 11-12%/năm khả thi nếu các điều kiện về môi trường kinh doanh được cải thiện đồng bộ. Tuy nhiên, kinh nghiệm giai đoạn trước cho thấy số lượng tăng nhanh không tự động dẫn đến chất lượng tốt hơn. Tỷ lệ doanh nghiệp giải thể bình quân 267 doanh nghiệp/năm trong giai đoạn 2021-2025, cùng với hơn 1.000 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký là khoảng tối trong bức tranh tăng trưởng mà đề án cần có giải pháp xử lý triệt để hơn, không chỉ dừng ở mục tiêu giảm tỷ lệ giải thể/ngừng hoạt động.

Thứ hai, hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ. Đề án thẳng thắn thừa nhận: giai đoạn 2021-2025, nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp "chưa thực sự phát huy hiệu quả", tiến độ giải ngân chậm, tác động phân tán, thiếu liên thông. Đây không phải là vấn đề thiếu chính sách mà là vấn đề chất lượng thực thi. Giai đoạn 2026-2030, đề án đặt ra yêu cầu "chuyển mạnh sang hỗ trợ có trọng tâm, tích hợp theo chuỗi ngành, gắn trách nhiệm cơ quan thực hiện với số doanh nghiệp thụ hưởng và hiệu quả sau hỗ trợ" đòi hỏi sự thay đổi thực chất trong cách thức vận hành bộ máy.

Đoàn công tác Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tham quan, khảo sát tại KCN Gia Lách mở rộng (DragonIZ Hà Tĩnh)

Thứ ba, bài toán FDI và liên kết chuỗi. Hà Tĩnh đang ở vị thế có lợi thế lớn về hạ tầng công nghiệp nhưng chưa tận dụng được đầy đủ tiềm năng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực nội địa. Doanh nghiệp FDI đóng góp 55% doanh thu nhưng chỉ có 91 đơn vị tạo ra rủi ro phụ thuộc. Mục tiêu 20 doanh nghiệp nội tỉnh tham gia chuỗi giá trị FDI đến năm 2030 là khởi đầu cần thiết nhưng còn khiêm tốn so với quy mô của hệ sinh thái công nghiệp đang hình thành tại Khu kinh tế Vũng Áng.

Đưa mục tiêu vào thực tiễn 

Đề án phát triển doanh nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2030 được ban hành vào thời điểm tỉnh đang bước vào giai đoạn phát triển mới với hàng loạt dự án công nghiệp lớn đồng thời triển khai: từ Nhà máy thép Vinmetal, điện khí LNG Vũng Áng 3, các khu công nghiệp thế hệ mới đến hệ thống logistics và cảng biển đang được mở rộng. Làn sóng đầu tư này tạo ra cơ hội lịch sử để hình thành chuỗi cung ứng, phát triển doanh nghiệp vệ tinh và nâng cấp năng lực nội sinh của khu vực kinh tế tư nhân địa phương.

Phối cảnh Nhà máy Nhiệt điện LNG Vũng Áng III (ảnh có sử dụng AI)

Để các mục tiêu của Đề án đi vào thực tiễn, các sở, ban, ngành và địa phương cần cụ thể hóa nhiệm vụ bằng tiến độ, sản phẩm và chỉ tiêu đánh giá; duy trì đối thoại, kịp thời tháo gỡ vướng mắc; đồng thời theo dõi số doanh nghiệp được hỗ trợ và hiệu quả sau hỗ trợ. Cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động đổi mới quản trị, chuyển đổi số, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tăng cường liên kết để tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.

Với trọng tâm chuyển từ tăng số lượng sang nâng chất lượng, Đề án tạo cơ sở để Hà Tĩnh phát triển đội ngũ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, có sức cạnh tranh và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế. Việc tổ chức thực hiện đồng bộ và kiểm chứng bằng kết quả cụ thể sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 có 18.000–20.000 doanh nghiệp hoạt động, khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 65% GRDP và khoảng 70% tổng thu ngân sách toàn tỉnh, tạo thêm động lực cho tăng trưởng bền vững của Hà Tĩnh./.

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.